Tuesday, May 26, 2009

Khủng hoảng thiếu oxy

TT - Trong quyển Khủng hoảng oxy vừa ra mắt của tác giả Roddy Newman (Mỹ), loài người hết sức chú ý đến việc làm sao đảo ngược tiến trình ấm lên toàn cầu, nhưng có rất ít người quan tâm đến hàm lượng oxy trong không khí đang giảm dần và hững tác hại lâu dài của nó.

So sánh với thời tiền sử, hàm lượng oxy trong bầu khí quyển bao quanh Trái đất đã giảm 1/3 và ở những thành phố lớn có thể giảm hơn 50%, theo nghiên cứu của các giáo sư Mỹ. Nguyên nhân? Khoảng 10.000 năm về trước, diện tích rừng bao phủ Trái đất nhiều ít nhất gấp đôi bây giờ, có nghĩa lượng oxy do rừng sinh ra hiện nay chỉ bằng phân nửa ngày trước. Trong khi đó, loài người lại đốt than, dầu mỏ, khí đốt khiến hàm lượng carbon trong không khí tăng vọt trong thế kỷ 20.

Ở biển cũng vậy. Theo báo cáo của Cơ quan Hàng không và vũ trụ Mỹ (NASA), lượng thực vật đơn bào sản xuất oxy giảm chỉ còn khoảng 70% so với cách đây ba thập niên. Thống kê của Liên Hiệp Quốc cho biết trên thế giới có gần 150 vùng chết do chất thải công nghiệp và nông nghiệp được đưa ra biển. Chất gây ô nhiễm làm giảm hàm lượng oxy xuống đến mức hầu hết hoặc không sinh vật biển nào còn có thể sống ở đó. Thiếu oxy khiến trữ lượng cá giảm và nguồn thức ăn của các dân tộc tiêu thụ hải sản giảm theo. Thiếu oxy còn gây đột biến gen, thay đổi nội tiết tố và những điều này có thể tác động đến khả năng sinh sản trong đời sống đại dương.

Nhà nghiên cứu Roddy Newman lấy làm lạ vì sao trên thế giới chưa hề có một cuộc nghiên cứu có tầm vóc nào về vấn đề này. "Có lẽ việc sụt giảm oxy diễn ra từ từ nên cơ thể con người đã tiến hóa để thích nghi với hoàn cảnh mới?" - tác giả nêu giả thuyết. Tuy vậy, ông nhắc đến quan điểm của giáo sư Mỹ Ervin Laszlo, cố vấn của Liên Hiệp Quốc về các khoa học hệ thống và triết học, cho rằng sự sụt giảm hàm lượng oxy tạo ra những hậu quả nghiêm trọng tiềm tàng.

Theo Laszlo, hàm lượng oxy trong khí quyển ở thời tiền sử là trên 21%, nhưng hiện chỉ còn 19% ở vùng tương đối ít ô nhiễm và 12-17% ở những thành phố lớn. Với hàm lượng oxy ít ỏi hiện nay, con người khó bề duy trì sức khỏe cơ thể do các tế bào và nội tạng thiếu oxy, hệ thống miễn dịch suy yếu, hoạt động giảm và hiệu quả kém. Không phải ngẫu nhiên mà số ca ung thư và các bệnh lạ tăng theo đà sụt giảm oxy.

"Cần phải có một cuộc điều tra để xem việc giảm oxy trong không khí tác động dài hạn thế nào đến giống loài của con người cũng như của các loài khác" - tác giả nhấn mạnh.


Thiếu oxy = Hội chứng “Nhà Kín”

Những người sinh sống trong các căn hộ khép kín hay có môi trường xung quanh ô nhiếm dễ thấy mệt mỏi, khó chịu. Một hai năm trở lại đây, một số gia đình đã phải mua bình oxy đểxả khí ra khắp nhà nhằm bổ sung dưỡng khí.

Ông Nguyễn Hữu Viên (Công ty Thương mại Thiện Chí) cho biết vài năm trở lại đây, có nhiều khách hàng đến mua bình khí oxy để xả ra khắp nhà do không khí trong nhà thiếu dưỡng khí, quá ngột ngạt. Thiếu oxy làm xuất hiện các triệu chứng: nhức đầu, khó chịu ở mặt, mũi, họng, chóng mặt buồn nôn, mệt mỏi và ngủ gật, mất tập trung, dễ bị kích động, dễ cáu gắt, khô da, ngứa và nổi ban ở da, làn da chóng nhăn nheo, già trước tuổi. Những người sống trong các chung cư cao tầng, những căn hộ có môi trường xung quanh ô nhiễm dễ mắc các triệu chứng trên.

Hiện tượng đó còn gọi là hội chứng cao ốc. Bởi vì những triệu chứng đó có vẻ giống bệnh cảm cúm thông thường. Nhưng các biểu hiện sẽ giảm hẳn hoặc biến mất khi ra khỏi tòa nhà. Nguyên nhân chính là do không khí cũ được máy điều hòa luân chuyển nhiều lần trong phòng kín gây ô nhiễm không khí. Hơn nữa, môi trường tại các chung cư không được bảo vệ hợp lý, môi trường tại một số chung cư đã bị ô nhiễm trầm trọng. Theo cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ, phần lớn các toà cao ốc có không khí ô nhiễm gấp 100 lần so với môi trường bên ngoài.

Các tòa nhà cao tầng chứa nhiều khí độc hại từ nhiều nguồn khác nhau như: khói thuốc, sơn tường, thảm sàn nhà, hóa chất xịt thơm, các máy văn phòng… Các vật dụng đó tạo ra các khí độc hại CO2, radon… và các chất hữu cơ bay hơi VOC gây nguy cơ mắc các bệnh hô hấp. Ngoài ra, những vũng nước đọng trong ống thông khí, trần nhà, thảm…là điều kiện cho nấm mốc phát triển.

Để bổ sung oxy cho căn phòng cần xả bình khí trong điều kiện đóng kín cửa không thì sẽ là “gió vào nhà trống”. Anh Trần Nam, một người ở quận Hai Bà Trưng cho biết: “Nhà tôi nằm ngày bên sông Kim Ngưu luôn bốc mùi hôi thối rất khó chịu, nhất là vào những ngày hè thì thật khủng khiếp. Nhà lại có người già, trẻ em nên hàng tháng tôi phải mua một, hai bình oxy để xả khắp nhà, thì thấy dễ chịu hơn rất nhiều”.

Không chỉ người bệnh mà cả người khỏe mạnh mỗi ngày cũng nên bổ sung trực tiếp oxy khoảng 30-60 phút, đặc biệt cần thiết cho những người thường xuyên làm việc trong môi trường sản xuất độc hại, ngồi lâu trong xe hơi, phòng kín, lao động trí óc căng thẳng. Tuy nhiên, những người bình thường không nên lạm dụng vì như thế có thể làm cho phổi lười hoạt động.

Hiện nay, bình quân mỗi ngày Công ty Thương mại Thiện Chí cung cấp 12-15 bình oxy cho khách hàng sử dụng dịch vụ này. Một bình có dung tích 140 lít xả liên tục được ba giờ. Nhưng đây cũng chỉ là biện pháp tạm thời. Vấn đề cấp thiết là cải tạo hệ thống không khí, xử lý vấn đề ô nhiễm môi trường. Những khách hàng quen thường là có nhà nằm gần các con sông bị ô nhiễm.

Monday, May 11, 2009

NHU CẦU DINH DƯỠNG KHUYẾN NGHỊ CHO NGƯỜI VIỆT NAM

Bảng 1 - NHU CẦU DINH DƯỠNG KHUYẾN NGHỊ CHO NGƯỜI VIỆT NAM

Lứa tuổi Năng lượng (kcal) Protein (g) Chất khoáng Vitamin
Ca (mg) Fe (mg) A (mcg) B1 (mg) B2 (mg) PP (mg) C (mg)
Trẻ em








3 - <> 620 21 300 10 325 0,3 0,3 5 30
6-12 tháng 820 23 500 11 350 0,4 0,5 5,4 30
1 - 3 tuổi 1300 28 500 6 400 0,8 0,8 9,0 35
4 - 6 tuổi 1600 36 500 7 400 1,1 1,1 12,1 45
7-9 tuổi 1800 40 500 12 400 1,3 1,3 14,5 55
Nam thiếu niên








10 - 12 tuổi 2200 50 700 12 500 1,0 1,6 17,2 65
13 - 15 tuổi 2500 60 700 18 600 1,2 1,7 19,1 75
16 - 18 tuổi 2700 65 700 11 600 1,2 1,8 20,3 80
Nữ thiếu niên








10 - 12 tuổi 2100 50 700 12 700 0,9 1,4 15,5 70
13 - 15 tuổi 2200 55 700 20 700 1,0 1,5 16,4 75
16 - 18 tuổi 2300 60 600 24 600 0,9 1,4 15,2 80
Người trưởng thành








Nam 18 - 30 tuổi








lao động nhẹ 2300 60 500 11 600 1,2 1,8 19,8 75
lao động vừa 2700 60 500 11 600 1,2 1,8 19,8 75
lao động nặng 3200 60 500 11 600 1,2 1,8 19,8 75
Nam 30 - 60 tuổi








lao động nhẹ 2200 60 500 11 600 1,2 1,8 19,8 75
lao động vừa 2700 60 500 11 600 1,2 1,8 19,8 75
lao động nặng 3200 60 500 11 600 1,2 1,8 19,8 75

Nam > 60 tuổi










lao động nhẹ 1900 60 500 11 600 1,2 1,8 19,8 75
lao động vừa 2200 60 500 11 600 1,2 1,8 19,8 75

Nữ 18 - 30 tuổi










lao động nhẹ 2200 55 500 24 500 0,9 1,3 14,5 70
lao động vừa 2300 55 500 24 500 0,9 1,3 14,5 70
lao động nặng 2600 55 500 24 500 0,9 1,3 14,5 70

Nữ 30 - 60 tuổi










lao động nhẹ 2100 55 500 24 500 0,9 1,3 14,5 70
lao động vừa 2200 55 500 24 500 0,9 1,3 14,5 70
lao động nặng 2500 55 500 24 500 0,9 1,3 14,5 70

Nữ > 60 tuổi










lao động nhẹ 1800 55 500 9 500 0,9 1,3 14,5 70










Phụ nữ có thai (6 tháng cuối)

+ 350 + 15 1000 30 600 + 0,2 + 0,2 + 2,3 + 10

Phụ nữ cho con bú (6 tháng đầu)

+ 550 + 28 1000 24 850 + 0,2 + 0,4 + 3,7 + 30

Ghi chú: (+): có nghĩa là phần thêm so với nhu cầu của người phụ nữ ở lứa tuổi tương ứng

Chế độ ăn cho người có nhóm máu B

Nếu như thực đơn của người có nhóm máu AB nghiêng về thực vật thì người có nhóm máu B lại thích hợp với một chế độ ăn gồm thịt rừng, thịt thú nuôi theo đàn (như cừu), trứng, sản phẩm từ sữa ít chất béo. Ngoài ra, cần ăn thêm cá, đậu hạt, ngũ cốc, trái cây và rau.

Nhóm máu B được gọi là nhóm máu “người du cư”. Nó xuất hiện ở giai đoạn sau trong quá trình tiến hóa, thích nghi hài hòa với đời sống du cư, chăn nuôi bò, cừu ở những vùng cao.

Những thức ăn kỵ với người có nhóm máu B gồm bắp, kiều mạch, đậu lăng, đậu phộng (lạc), mè (vừng) và lúa mì - vì chúng chứa các lectin làm trì trệ sự chuyển hóa họ, dẫn tới mệt mỏi, ứ dịch và hạ đường huyết. Thịt gà, vốn có những lectin kết dính tấn công luồng máu tuần hoàn của nhóm B, cũng có thể dẫn tới đột quỵ và những bệnh rối loạn miễn dịch. Một số đậu hạt như đậu lăng, đậu trắng hàm chứa lectin cản trở tiến trình sản xuất insulin. Cũng như với người có nhóm máu O, người nhóm B cũng không nên ăn cà chua.

Do ít phải “đương đầu” với môi trường như nhóm máu O, và ít phải chịu “gánh nặng” về mặt thể chất như nhóm máu A nên những người thuộc nhóm máu B cần hoạt động thể chất xen kẽ loại cường độ cao với các hình thức thư giãn. Ví dụ như ba ngày mỗi tuần chơi thể dục nhịp điệu, đánh tennis, tập judo, đi bộ, đạp xe đạp, bơi lội, chạy bộ hay cử tạ; còn 2 ngày khác tập tai-chi, yoga, chơi gôn.

Những người thuộc nhóm máu B có nhiều nguy cơ bị virus phát triển chậm tấn công hệ thần kinh hơn những người thuộc nhóm máu khác. Họ cũng hay bị bệnh xơ cứng rải rác, Lou Gehrig hơn. Hệ miễn dịch của họ không nhận biết được các virus kể trên kẻ thù. Thịt gà và bắp vốn có những lectin khiến người nhóm máu B dễ nhạy cảm hơn với loại virus này nên cũng là những thức ăn cần kiêng cữ.

Người có nhóm máu AB nên ăn gì?

Về cơ bản, chế độ ăn tối ưu của người có nhóm máu AB cũng giống chế độ ăn của người có nhóm máu A, tức là nghiêng về thực vật, nên thêm cá và chút sữa...

Mỗi nhóm máu được đánh dấu bởi những chất sinh hóa chuyên biệt, thường được gọi là sinh kháng thể (angtigens), giúp cho hệ miễn dịch biết đâu là “bạn” và đâu là “thù”. Nếu một sinh kháng thể khác lạ xâm nhập cơ thể, hệ miễn dịch sẽ tạo ra kháng thể (antibody) để đối phó. Kháng thể “bám” lấy chất lạ, đánh dấu và khiến nó dễ kết dính về mặt sinh hóa. Các sinh kháng thể kết dính virus, vi khuẩn, ký sinh trùng và tế bào ung thư... lại thu hút lẫn nhau, dính chùm vào nhau và nhờ thế hệ miễn dịch của cơ thể phá hủy được chúng dễ dàng.

Nếu chất protein có tên lectin trong thức ăn không tương thích với các sinh kháng thể của nhóm máu, chúng sẽ kết dính các hồng cầu.

Hơn thế nữa, các lectin không tương thích trong thức ăn sẽ kháng lại tiến trình tiêu hóa ngay trong dạ dày, tự kết dính vào các tế bào dạ dày và ruột non, hoặc “đột nhập” vào dòng tuần hoàn máu và di chuyển tới bộ phận khác (như thận, gan, não) và kết dính tế bào ở nơi chúng đọng lại. Các lectin không tương thích này làm tê liệt các cơ quan và hệ thống, gây trở ngại cho việc tiêu hóa, chuyển hóa thức ăn, đến tiến trình sản xuất insulin và tác động lên thế quân bình hoóc môn.

AB là nhóm máu “mới” nhất trong quá trình tiến hóa, chỉ mới xuất hiện 10-15 thế kỷ trở lại đây. Đây là nhóm máu hiếm gặp nhất và có thể còn đang biến chuyển. Nhưng chắc chắn nhóm máu AB là sự kết hợp đa số các ưu điểm cũng như nhược điểm của nhóm máu A và B.

Chế độ ăn tối ưu của người có nhóm máu AB nghiêng về thực vật, nên thêm cá và chút sữa...

Người có nhóm máu này phải kiểm tra thật kỹ những thức ăn sẽ dùng hơn so với người có nhóm máu khác.

Nhóm AB thừa hưởng của nhóm A một bào tử tiết ra ít acid và thừa hưởng khả năng thích nghi với thịt của nhóm B. Kết quả là người có nhóm máu AB ăn được một ít các loại thịt mà nhóm B ăn được (như thịt cừu, thịt thỏ, thịt gà tây). Riêng thịt bò sẽ gây khó tiêu, khi hấp thu vào cơ thể sẽ chuyển hóa thành mỡ. Còn thịt gà làm người có nhóm máu AB dễ bị xung huyết, gây viêm bao tử và ruột. Đậu phụ và hải sản (hợp với nhóm A), yaourt và trứng (hợp với nhóm B) cũng là những nguồn đạm được nhóm AB chuyển hóa tốt.

Thức ăn không hợp với nhóm AB là những loại mà nhóm A và B phải kiêng. Họ thừa hưởng được của nhóm B phản ứng “nghịch” đối với các loại đậu trắng hạt lớn, ngô, lúa mạch, hạt vừng; và có khuynh hướng dung nạp tốt các loại đậu hạt nhỏ, đậu nành và lạc của nhóm A.

Nhóm AB còn giống nhóm A ở chỗ dung nạp được chất gluten trong lúa mì, mặc dù lúa mì có khuynh hướng làm chậm nhịp chuyển hóa của nhóm AB và dẫn tới tăng cân. Trong cả 4 nhóm máu, chỉ nhóm AB là có vẻ “miễn dịch” đối với cà chua.

Người có nhóm máu AB còn thừa hưởng kiểu bị stress của nhóm A. Các tuyến thượng thận không được điều hòa khiến người có nhóm máu AB thường lo âu, dễ cáu gắt, năng động thái quá, có khi làm việc đến kiệt sức và dễ mắc bệnh nhiễm trùng.

Các môn thể thao tốt cho nhóm AB là những môn đem lại sự bình thản và tập trung như tai-chi, hatha yaga và akido. Những môn thể thao phù hợp với nhóm A cũng có lợi cho nhóm AB, gồm đánh gôn, đi bộ, bơi lội, xe đạp và thể dục nhịp chậm.

Những bệnh mà người có nhóm AB dễ mắc cũng giống như nhóm A, gồm các bệnh nhiễm trùng, bệnh tim và các loại ung thư. Người có nhóm máu AB cũng có khuynh hướng bị thiếu máu ác tính, xơ cứng rải rác.

Thực đơn thích hợp cho người có nhóm máu O

Bộ máy chuyển hóa của những người có nhóm máu O sẽ vận hành tốt nhất nếu được cung cấp các thức ăn có tỷ lệ đạm cao và bột - đường thấp. Nghĩa là họ nên ăn nhiều bữa nhỏ có thịt gà, vịt (tránh thịt lợn) và cá, kèm rau, trái cây.

Máu O là nhóm máu “cổ xưa” nhất, nó phản ánh lối sống của con người trong thời kỳ nguyên thủy, khi còn phải săn thú và hái lượm thức ăn để sinh sống và tồn tại. Hiện nay, đây là nhóm máu phổ biến nhất.

Các thức ăn "thù địch" đối với những người có nhóm máu O là đa số các loại ngũ cốc (đặc biệt là lúa mì), đậu hạt, nhiều loại rau thuộc họ cải (như cải bắp, súp lơ, cải mù tạc) và các sản phẩm từ sữa. Các thức ăn này có những lectin sẽ dẫn tới phản ứng kết dính rất có hại trong cơ thể. Người có nhóm máu O cũng phải kiêng cả cà chua, vì cà chua có chứa một lectin đặc biệt mạnh, có khả năng kết dính các nhóm máu A, B và O. Lectin có trong cà chua cũng làm giảm hàm lượng mucin - thành phần chính của chất nhầy trong dạ dày, gây bệnh ở cơ quan này.

Thể dục nhịp điệu mạnh là hình thức tập luyện chống stress tốt nhất đối với người có nhóm máu O, vì họ thừa hưởng được của tổ tiên - vốn là những “thợ săn” - nhịp độ chuyển hóa nhanh một số lớn năng lượng. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy khi bị stress, người nhóm máu O có khuynh hướng tiết ra nhiều chất dẫn truyền thần kinh ở nồng độ cao hơn hẳn những người có nhóm máu khác. Tuy nhiên, về hàm lượng enzym monoamine oxidase (MAO) thì lại kém các nhóm máu khác. Thể dục nhịp điệu mạnh sẽ giúp những người nhóm máu O điều hòa và cân đối các chất sinh hóa chỉ điểm của stress.

Những người thuộc nhóm máu O nếu ăn uống không đúng có nhiều nguy cơ bị loét dạ dày; vì dạ dày của họ thuộc loại được trang bị để “tiêu thịt” nên sản xuất ra nhiều acid. Họ cũng thường bị chứng viêm ruột, hội chứng ruột dễ kích thích và viêm khớp. Các chất lectin trong lúa mì và bắp còn dễ gây béo phì cho người có nhóm máu O (khi liều cao insulin chuyển đường thành mỡ trong các tế bào).

Thực đơn tốt nhất cho người có nhóm máu A

Ống tiêu hóa của người thuộc nhóm máu A thích hợp với chế độ ăn có nguồn đạm chủ yếu từ cây cỏ và ngũ cốc, hoặc cá đánh bắt được từ hồ, sông, biển kề cận nơi cư ngụ.

Nhóm máu A được gọi là nhóm máu của “người thợ cày”, xuất hiện sau giai đoạn săn bắt, hái lượm, khi các đàn súc vật thưa dần và loài người bớt di chuyển, bắt buộc định cư một chỗ, phải biết cách trồng trọt, cày cấy và bảo quản thức ăn thu hoạch. Hiện nay, những người có nhóm máu A (chiếm 40% dân số Mỹ) vẫn tiếp tục phát triển. Họ thích hợp với chế độ ăn chủ yếu có nguồn gốc từ thực vật như các sản phẩm từ đậu nành, các hạt họ đậu, ngũ cốc, rau, trái cây... và một ít cá. Thỉnh thoảng họ cũng có thể ăn thịt gà, thịt vịt và những sản phẩm từ sữa lên men chua (như yaourt).

Những thức ăn có hại cho máu nhóm A là thịt và các sản phẩm từ sữa. Dạ dày của những người này vốn chỉ quen tiêu hóa rau, ít tiết ra axit không thích hợp với việc tiêu hóa đạm động vật. Thịt sẽ được chuyển hóa chậm và hậu quả là độc tố bị ứ lại trong ruột, làm viêm tấy niêm mạc ruột.

Khi niêm mạc đã bị tổn thương, các lectin và độc tố có thể xâm nhập vào vòng đại tuần hoàn, di chuyển tới đâu sẽ sinh bệnh ở đó. Những thức ăn từ sữa không được tiêu hóa đến nơi đến chốn sẽ gây nên những phản ứng insulin. Khi chức năng dẫn đường vào tế bào của insulin không được hoàn tất, nhịp chuyển hóa chậm lại, năng lượng không được tiêu hao và calo không dùng tới sẽ chuyển thành mỡ dự trữ.

Cũng như người có nhóm máu O, người thuộc nhóm máu A cũng nên tránh ăn cà chua.

Khi bị căng thẳng (stress), người có nhóm máu A hay nóng nảy, dễ lo âu, cáu gắt. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy nồng độ cortisol (do tuyến thượng thận tiết ra) trong máu của họ cao hơn nhiều so với những người có nhóm máu khác. Điều này giải thích tại sao người nhóm máu A có tỷ lệ mắc bệnh tim cao hơn các nhóm kia.

Những môn thể dục nặng và có tính cách đối kháng dễ làm suy kiệt năng lực thần kinh của những người nhóm máu A. Họ thích hợp hơn với những phương pháp luyện tập nhẹ nhàng như yoga, tai-chi hay ngồi thiền, hoặc những môn thể thao không có tính đối kháng như đánh gôn, đi bộ, thể dục, bơi lội, đạp xe hay những bài quyền nhịp chậm.

Các bệnh người thuộc nhóm máu A dễ mắc phải:

- Bệnh tim mạch: Vì họ có lượng trigglycerid và cholesterol máu cao (do tiêu hóa thịt và chất béo bão hòa kém).

- Ung thư.

- Bệnh thiếu máu ác tính: Người nhóm máu A có ít axit trong dạ dày nên rất khó hấp thu sinh tố B12 (Cobalamin) - một yếu tố cần thiết cho việc sản xuất huyết sắc tố hemoglobin.